Mô tả
Sơ lược tác phẩm Gia Đình Má Bảy
Trong Gia Đình Má Bảy, cốt chuyện rộng rãi, tác giả đặt những vấn đề lớn, ví dụ như vấn đề công bằng xã hội trong lịch sử dân tộc: “Bởi sống nửa đời trong bung lầy như bị vùi đến nửa thân, má hiểu lắm cái phận tá điền sinh ra để cày ruộng người, kiếp trước truyền cho kiếp sau chỉ một túp lều rách. Người xưa đã dẹp hết các thứ giặc từ ngoài đến mà không trị nổi bọn giặc trong làng. Con trâu đủ sức giết cọp mà không tự tháo gỡ được con đỉa hút máu ở cổ, đành chịu vậy đến khi ngã quỵ”
Những trang cảm động nhất của Gia Đình Má Bảy có thể là những trang đẹp nhất trong văn nghệ Miền Nam, là những trang mô tả những hy sinh thầm lặng của người phụ nữ Miền Nam trong hai cuộc kháng chiến.
Trích đoạn
Chương 1
1
Trời trắng đục nhả mưa không ngớt. Làn nước tuôn xuống bị gió bấc cuốn tròn lại thành những chiếc chiếu bạc dựng đứng, vặn lưng nghiêng ngả, nối nhau lướt qua xóm.
Mỗi lần một cột mưa như thế giẫm ngàn chân ràn rạt trên mái nhà bếp, má Bảy lại ngửng đầu xem nó đi đâu. Nó múa tròn trên cái sân nhão ngập một lớp nước rỗ hoa, hất nhào lộn những tàu lá chuối rách, túm lấy tấm bảng khẩu hiệu bằng tôn đã long đinh mà đập thình thình vào cái cổng chào gỗ. Nó quét đuôi qua rặng tre cuối vườn, chạy hun hút về phía dãy đồi hoang ven sông Nhỡn. Hình như mưa gió cố ý tuôn về phía ấy.
Má Bảy thở nhẹ một cái, bồn chồn và thoáng mừng. Rồi má cúi xuống cạy nốt những hạt dầu lai đã đập nứt vỏ. Dưới mũi dao xoi, lớp nhân màu ngà rã vụn, rơi xuống đĩa. Một cột mưa khác kéo qua, má lại nhìn, và những cảm giác đã mòn lại đến rồi đi.
Một bóng người mang tơi đội nón tùm hụp bước vào ngõ, đầu chúi tới trước như húc mưa, hai tay túm giữ chùm dây treo của đôi bầu (1)lủng lẳng đầu đòn gánh. Chị Đa hàng xóm đi tỉnh về. Chồng chị bị gọi đi tái đăng quân dịch, mới gửi cho chị cái ngân phiếu ba trăm bạc cách đây mươi hôm.
—–
(1) Một loại bồ nhỏ quang dầu.
Chị bước lên thềm, lật nón. Mặt chị hàng ngày vàng bủng bây giờ xám lại. Mấy ngón tay tê lóng ngóng mãi mới cởi được sợi dây buộc tơi lá ở cổ. Má Bảy chậm chạp cầm ống thổi lửa, thổi đống trấu rấm cho lửa bén chập chờn trên mặt trấu, đẩy mấy khúc củi tàn vào bếp. Trong cử chỉ của má có cái vẻ gì vừa ân cần vừa dè dặt. Chị Đa cúi mặt xuống gần lửa, còn hơ nóng hai bàn tay rồi xát chung quanh miệng. Hồi lâu chị mới bật ra nói, hổn hển vì nín thở:
– Chết… ông trời làm tội…
Má Bảy đặt ngửa cái vung đất trên ba ông táo, bỏ nắm dầu lai vụn vào rang quèn quẹt. Người ta bảo ăn muối dầu lai nhiều thì mất máu, rụng răng rụng tóc. Rụng cũng phải ăn. Trong nhà má lâu nay vắng thịt cá, đến chút dầu chút mắm cũng hết sạch. Ban tố cộng cấm các gia đình loại A và B không được ra khỏi thôn trong chiến dịch “toàn dân sát cộng”. Chị Đa thuộc loại C “thiện chí quốc gia” được đi chợ, nhưng má cũng không có đồng nào gửi chị mua mắm về ăn.
Chị Đa bớt cóng. Chị nói hồ hởi:
– Qua miếu âm hồn, tôi mệt quá muốn nằm lăn ra gốc đa, sau khấn âm hồn mấy câu mới khỏe lại, về tới nơi đó bác. Cái miếu rách mà linh hết sức!
Má Bảy khẽ nhếch miệng, nửa đùa nửa thật:
– Thờ Chúa sao lại khấn ma?
Chị cười xòa:
– Ối, sẵn đâu xâu đó. Vô nhà thờ cầu Chúa, qua chùa khấn Phật, tới miếu vái âm hồn, trúng cửa nào tôi nhờ cửa nấy… Con tôi khóc hung không bác?
– Khóc chán rồi ngủ lăn ra kia nè.
Chị Đa đến cạnh chõng. Hai đứa con chị ôm nhau ngủ. Con mắt người mẹ nhận ngay ra cái chăn xếp đôi đắp trên mình con được tém góc thật gọn, mẻ than hồng đặt dưới chõng còn bốc hơi ấm, cặp áo quần con Thừa giặt sạch hong khô xếp trên đầu giường. Chị vuốt tóc con, nghẹn ngào. Chị biết ơn.
…